Posted in Blog - news

Thực học

https://www.chungta.com/nd/tu-lieu-tra-cuu/thuc_hoc.html

Thực học

TS. Dương Ngọc DũngTuổi trẻ Chủ nhật
09:10′ SA – Thứ năm, 28/05/2015

Cả tiếng Nhật jitsugaku và tiếng Hàn sirhak đều có thể phiên ra âm Hán Việt là “thực học”. Đó là một phong trào tiền duy tân, tiền hiện đại hóa, và có thể nói nó đóng góp lớn vào công cuộc khai hóa và duy tân đất nước tại Nhật Bản và Triều Tiên vào thế kỷ 19.

Tại Nhật Bản, tư tưởng thực học gắn liền với tên tuổi Kaibara Ekken (1630-1714) và Tasan (tức Chong Yagyong, 1762-1836) là nhà tư tưởng thực học lỗi lạc, có thể được xem là một trong những triết gia vĩ đại nhất trong lịch sử văn hóa và tư tưởng Hàn Quốc. Nguyễn Trường Tộ (1830-1871) xứng đáng được so sánh cùng hai vĩ nhân Đông Á như những tư tưởng gia cố gắng thay thế cái học từ chương của Tống Nho Trung Quốc bằng những tri thức thực tế nhằm cải tạo xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống.

Dĩ nhiên, tại Trung Quốc, Trần Lượng là người đầu tiên dám phản đối triết học Chu Hi, ông tổ của triết học Tống Nho, và đề cao cái học thực tế. Tại VN, trong quá khứ, Lê Quý Đôn và Hồ Quý Ly cũng từng phê phán Chu Hi, phê phán cái học không liên quan gì đến thực tiễn cuộc sống. Nhưng tất cả chỉ là những tiếng kêu trầm thống lẻ loi trong sa mạc.

Chỉ có Ekken, Tasan và Nguyễn Trường Tộ là phê phán toàn diện nhất, triệt để nhất lối học vụ cổ và đề ra những biện pháp thiết thực để chữa trị tận căn những khối ung thư đang tàn phá thân thể quặt quẹo của xã hội.

Kaibara Ekken: “Aristotle của Nhật Bản”

Trong lịch sử tư tưởng Nhật Bản, Kaibara Ekken là một trong ba triết gia sống vào đầu thời kỳ Mạc phủ Tokugawa dám mạnh dạn phê phán hệ tư tưởng của Chu Hi. Hai triết gia kia là Ito Jinsai (1627-1705) và Yamaga Soko (1622-1685). Ngay từ thời đó sống trong một môi trường quan điểm triết học có sự gắn bó mật thiết với chính trị, Ekken đã nhấn mạnh những tư tưởng cơ bản sau đây:

1-Phương pháp học tập có hiệu quả nhất là kết hợp lý thuyết và thực tế.
2-Người quân tử phải có khả năng tiếp thu phê bình và sửa chữa sai lầm.

Khuynh hướng thực học của Ekken thể hiện trong việc nghiên cứu của ông. Ekken nghiên cứu không những cổ văn, kinh điển Nho gia, ông còn đọc cả ngôn ngữ học, thiên văn học, y học, sinh vật học, thực vật học, nông học, vệ sinh thực phẩm, luật học, toán học, âm nhạc và chiến thuật quân sự.

Nhà bác học người Đức Philip Franz von Siebold (1796 -1866) khi viếng thăm Nhật Bản vào thế kỷ 19 đã tìm hiểu và vô cùng thán phục các tác phẩm của Ekken, gọi ông là “Aristotle của Nhật Bản”. Ngay từ thế kỷ 17 Ekken đã nhấn mạnh giá trị của việc học là ích nước lợi dân, không phải là thảo luận những điều vô bổ.

Kiệt tác Yamato honzo (Cây cỏ Nhật Bản)của Ekken (xuất bản năm 1709) là công trình nghiên cứu thực vật học có giá trị khoa học đầu tiên tại Nhật Bản. Nhiều nhà khoa học phương Tây khi đến Nhật trong thời Minh Trị đã vô cùng kinh ngạc trước hiểu biết rất bác học của Ekken về thực vật. Một Nho gia mà lại quan tâm nghiên cứu khoa học như Ekken quả thật là một hiện tượng hết sức hiếm hoi trong toàn bộ nền văn minh Đông Á. Việc Nhật Bản trong thế kỷ 20 có nhiều giải Nobel khoa học chắc chắn không phải là chuyện ngẫu nhiên.

Tasan: thách đố Nho Học truyền thống

Cũng như tất cả những tư tưởng gia Triều Tiên (1692-1910) có quan hệ mật thiết với phong trào thực học (sirhak), Tasan thuộc giai cấp quan lại, ngay từ nhỏ đã phải học hành kinh điển Nho giáo rất kỹ, nhưng các biến cố chính trị xã hội đã thúc đẩy ông và nhiều Nho gia khác phải đánh giá lại một cách toàn diện các nguồn lực tư tưởng và chính trị hiện hành xem chúng có mang lại những kết quả tốt đẹp thực tế cho đất nước hay không. Phong trào này bắt nguồn từ hai nguyên nhân chính:

1-Bất mãn với cái học lý thuyết bắt nguồn từ Trung Quốc, đặc biệt sau cuộc chiến tranh Nhâm Dần (1592, khi Nhật tấn công Triều Tiên) và cuộc xâm lăng của Mãn Châu.

2-Bất mãn với tinh thần bè phái tại cung đình đã ngăn cản không cho những người thật sự có khả năng tham gia việc điều hành quốc gia.

Khác với các nhà Nho ra rả tụng niệm kinh điển Nho giáo, Tasan tập trung nghiên cứu khảo sát những vấn đề kinh tế chính trị, nông nghiệp, hình luật, nhằm giảm nỗi khổ cho dân và đem lại sự thịnh vượng cho quốc gia. Hai kiệt tác tiêu biểu của Tasan là Mongmin simso (Mục dân tâm thư: những điều tâm huyết về vấn đề cai trị nhân dân) và Hum hum sinso (Khâm khâm tân thư: luận văn mới về hệ thống luật pháp). Tasan đã bị lưu đày 18 năm khi chính quyền Triều Tiên ra lệnh bức hại đạo Công giáo vào năm 1801.

Nguyễn Trường Tộ: nhà thực học đầu tiên của VN

Trong số các di cảo của mình, Nguyễn Trường Tộ đã viết một bài có cái tựa rất rõ là “Về cái học thực dụng” (di thảo số 18, theo Trương Bá Cần, Nguyễn Trường Tộ: con người và di thảo, nhà xuất bản TP.HCM, 2002). Dĩ nhiên, tư tưởng thực học chan hòa toàn bộ trong các tác phẩm của ông nhưng chỉ cần đọc bài này chúng ta cũng thấy được phần cốt lõi trong tư tưởng của ông.

Trong Tế cấp bát điều (điều thứ tư) Nguyễn Trường Tộ lên án gay gắt lối học từ chương khoa cử dưới triều Nguyễn: “Ngày nay lúc nhỏ thì học văn, từ, thơ phú, lớn lên ra làm thì lại luật, lịnh, binh, hình. Lúc nhỏ học nào Sơn Đông Sơn Tây mắt chưa từng thấy, lớn lên ra làm thì đến Nam Kỳ, Bắc Kỳ.

Lúc nhỏ học nào thiên văn, địa lý, chính trị, phong tục tận bên Tàu (mà nay họ đã sửa đổi khác hết rồi), lớn lên ra làm thì lại dùng đến địa lý, thiên văn, chính trị, phong tục của nước Nam, hoàn toàn khác hẳn […] Xưa nay các nước trên thế giới chưa từng có nước nào có nền học thuật như vậy […] Như vậy mà cứ học cho đến bạc tóc, thật là quái đản, không thể hiểu nổi”.

Về quan hệ với phương Tây, Nguyễn Trường Tộ, cũng giống như Ekken và Tasan, chủ trương mở cửa làm ăn buôn bán với họ và đặc biệt phải tích cực học hỏi khoa học kỹ thuật của người phương Tây. Đó là lối thoát duy nhất ra khỏi con đường học vấn sáo mòn nô lệ vào Trung Hoa. Không đi sâu vào chi tiết chúng ta có thể thấy ngay ba tư tưởng gia này đều thống nhất ở một điểm: một nền học vấn có giá trị thật sự là một nền học vấn đem lại sự phát triển cho đất nước, làm xã hội phồn vinh, đời sống vật chất được nâng cao.

Sự đả kích nền giáo dục cũ của họ, ngày nay nhìn lại, có chỗ hơi quá đà, thậm chí thiển cận. Nho giáo không phải là một triết học hoàn toàn xa rời thực tế: Khổng Tử là một trong những con người thực tế nhất thế giới. Các vương triều Đông Á đã lợi dụng tư tưởng của ông, chế định hóa thành những bài thi mang tính giáo điều cứng nhắc, biến những tư tưởng có giá trị nhân văn muôn đời thành những công thức trống rỗng.

Nhưng trong một hoàn cảnh lịch sử cụ thể, trong một tâm trạng đau lòng, phẫn nộ trước tình trạng lạc hậu của đất nước, Nguyễn Trường Tộ, Ekken và Tasan đã kiên quyết phê phán lối học dựa trên mô hình Trung Hoa một cách triệt để để nhắc nhở chính quyền và giới trí thức mau sớm tỉnh ngộ, không còn vênh váo tự mãn trong tháp ngà sách vở lạc hậu, và mau chóng hấp thu những kiến thức mới đến từ phương Tây để góp phần phú quốc cường binh.

Tiếc thay cả ba đều là những kẻ sĩ sinh bất phùng thời, tuy triều đình cũng có quan tâm lắng nghe, nhưng não trạng của cả một thời đại vẫn chưa sẵn sàng tiếp nhận những ý tưởng quá mới lạ như thế. Nhật Bản phải đợi đến Minh Trị Duy Tân. Hàn Quốc sau nhiều thăng trầm lịch sử cũng chỉ cất cánh sau năm 1963.

Thực học: một nhu cầu của thời đại

Thực học, trong phạm vi bài này, xin tạm định nghĩa: “học hành theo phương pháp khoa học hiện đại”. Đối với Ekken, Tasan và Nguyễn Trường Tộ, thực học có nghĩa là tiếp thu văn minh văn hóa phương Tây. Ngày nay khái niệm phương Tây, phương Đông đã trở nên khập khiễng, khó áp dụng. Trung Quốc cũng đã có Trương Lợi Vĩ. Nhật Bản đã có mấy nhà vật lý đoạt giải Nobel. Hàn Quốc mới công bố thành công trong việc nhân bản phôi người.

VN muốn thành công trong lĩnh vực giáo dục, xã hội, khoa học kỹ thuật, hoàn toàn có thể học hỏi từ Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, không nhất thiết phải học từ Mỹ hay châu Âu. Vấn đề chính là vấn đề phương pháp khoa học. Phải cần thay đổi những kiểu tư duy lạc hậu, sống bám vào thời bao cấp với những đặc quyền đặc lợi. Tâm huyết và tinh thần Nguyễn Trường Tộ cần phải được phục hưng trong thế hệ trí thức hiện nay.

Không nói suông và hô hào trống rỗng, không làm việc theo chỉ tiêu cho có lệ, không chạy theo các thành tích giả tạo. Phải dành các ngân sách nghiên cứu khoa học cho các chuyên gia có khả năng. Cần lập ra một ủy ban giám định các công trình khoa học hoàn toàn độc lập với Nhà nước. Có lẽ đó là những bước đầu tiên, những điều kiện căn bản để tạo nên một phong trào thực học.

Posted in Blog - news

Lá thư giới thiệu ngắn mà hiệu quả nhất mọi thời đại?

Đó chính là thư giới thiệu John F. Nash vào hệ sau đại học của Đại học Princeton được viết bởi GS Richard J. Duffin. Thông thường ở Mỹ, để vào được một Đại học, học sinh không phải thi Đại học mà họ sẽ đăng ký một tổ chức tư nhân để thi vài chứng chỉ, chẳng hạn SAT, GRE,… Hồ sơ dự tuyển Đại học sẽ gồm bảng điểm học phổ thông, các chứng chỉ, CV và 2-3 lá thư giới thiệu (Letter of recommendation).

Thư giới thiệu của GS Duffin cho John Nash vào hệ sau Đại học của ĐH Princeton hết sức cô đọng với câu chốt: “He is a mathematical genius”.

Quả là, sau này Nash đã có những công trình hết sức quan trọng trong Toán học, đặc biệt là Cân bằng Nash nổi tiếng trong Kinh tế học, công trình đó đã mang lại giải Nobel Kinh tế năm 1994 cho John Nash.

 

Posted in Blog - news

Alan Turing’s Biography

Source: http://www.biography.com/people/alan-turing-9512017

Famed mathematician Alan Turing proved in his 1936 paper, “On Computable Numbers,”  that a universal algorithmic method of determining truth in math cannot exist.

Synopsis

Alan Turing was born on June 23, 1912, in London. In his seminal 1936 paper, he proved that there cannot exist any universal algorithmic method of determining truth in mathematics, and that mathematics will always contain undecidable propositions. That paper also introduced the “Turing machine. His papers on the subject are widely acknowledged as the foundation of research in artificial intelligence.

Early Life

English scientist Alan Turing was born Alan Mathison Turing on June 23, 1912, in Maida Vale, London, England. At a young age, he displayed signs of high intelligence, which some of his teachers recognized, but did not necessarily respect. When Turing attended the well-known independent Sherborne School at the age of 13, he became particularly interested in math and science.

turing

After Sherborne, Turing enrolled at King’s College (University of Cambridge) in Cambridge, England, studying there from 1931 to 1934. As a result of his dissertation, in which he proved the central limit theorem, Turing was elected a fellow at the school upon his graduation.

In 1936, Turing delivered a paper, “On Computable Numbers, with an Application to the Entscheidungsproblem,” in which he presented the notion of a universal machine (later called the “Universal Turing Machine,” and then the “Turing machine”) capable of computing anything that is computable: The central concept of the modern computer was based on Turing’s paper.

Over the next two years, Turing studied mathematics and cryptology at the Institute for Advanced Study in Princeton, New Jersey. After receiving his Ph.D. from Princeton University in 1938, he returned to Cambridge, and then took a part-time position with the Government Code and Cypher School, a British code-breaking organization.

Cryptanalysis and Early Computers

During World War II, Turing was a leading participant in wartime code-breaking, particularly that of German ciphers. He worked at Bletchley Park, the GCCS wartime station, where he made five major advances in the field of cryptanalysis, including specifying the bombe, an electromechanical device used to help decipher German Enigma encrypted signals. Turing’s contributions to the code-breaking process didn’t stop there: He also wrote two papers about mathematical approaches to code-breaking, which became such important assets to the Code and Cypher School (later known as the Government Communications Headquarters) that the GCHQ waited until April 2012 to release them to the National Archives of the United Kingdom.

enigma

Turing moved to London in the mid-1940s, and began working for the National Physical Laboratory. Among his most notable contributions while working at the facility, Turing led the design work for the Automatic Computing Engine and ultimately created a groundbreaking blueprint for store-program computers. Though a complete version of the ACE was never built, its concept has been used as a model by tech corporations worldwide for several years, influencing the design of the English Electric DEUCE and the American Bendix G-15—credited by many in the tech industry as the world’s first personal computer—among other computer models.

Turing went on to hold high-ranking positions in the mathematics department and later the computing laboratory at the University of Manchester in the late 1940s. He first addressed the issue of artificial intelligence in his 1950 paper, “Computing machinery and intelligence,” and proposed an experiment known as the “Turing Test”—an effort to create an intelligence design standard for the tech industry. Over the past several decades, the test has significantly influenced debates over artificial intelligence.

Homosexuality, Conviction and Death

Homosexuality was illegal in the United Kingdom in the early 1950s, so when Turing admitted to police—who he called to his house after a break-in—in January, 1952, that he had had a sexual relationship with the perpetrator, 19-year-old Arnold Murray, he was charged with gross indecency. Following his arrest, Turing was forced to choose between temporary probation on the condition that he receive hormonal treatment for libido reduction, or imprisonment. He chose the former, and soon underwent chemical castration through injections of a synthetic estrogen hormone for a year, which eventually rendered him impotent.

As a result of his conviction, Turing’s security clearance was removed and he was barred from continuing his work with cryptography at the GCCS, which had become the GCHQ in 1946.

Turing died on June 7, 1954. Following a postmortem exam, it was determined that the cause of death was cyanide poisoning. The remains of an apple were found next to the body, though no apple parts were found in his stomach. The autopsy reported that “four ounces of fluid which smelled strongly of bitter almonds, as does a solution of cyanide” was found in the stomach. Trace smell of bitter almonds was also reported in vital organs. The autopsy concluded that the cause of death was asphyxia due to cyanide poisoning and ruled a suicide.

In a June 2012 BBC article, philosophy professor and Turing expert Jack Copeland argued that Turing’s death may have been an accident: The apple was never tested for cyanide, nothing in the accounts of Turing’s last days suggested he was suicidal and Turing had cyanide in his house for chemical experiments he conducted in his spare room.

OLYMPUS DIGITAL CAMERA

Image: Bombe rebuild.

Awards, Recognition and Apology

Shortly after World War II, Alan Turing was awarded an Order of the British Empire for his work. For what would have been his 86th birthday, Turing biographer Andrew Hodges unveiled an official English Heritage blue plaque at his childhood home. In June 2007, a life-size statue of Turing was unveiled at Bletchley Park, in Buckinghamshire, England. A bronze statue of Turing was unveiled at the University of Surrey on October 28, 2004, to mark the 50th anniversary of his death. Additionally, the Princeton University Alumni Weekly named Turing the second most significant alumnus in the history of the school – James Madison held the number 1 position.

Turing was honored in a number of other ways, particularly in the city of Manchester, where he worked toward the end of his life. In 1999, Timemagazine named him one of its “100 Most Important People of the 20th century,” saying, “The fact remains that everyone who taps at a keyboard, opening a spreadsheet or a word-processing program, is working on an incarnation of a Turing machine.” Turing was also ranked 21st on the BBC nationwide poll of the “100 Greatest Britons” in 2002. By and large, Turing has been recognized for his impact on computer science, with many crediting him as the “founder” of the field.

Following a petition started by John Graham-Cumming, then-Prime Minister Gordon Brown released a statement on September 10, 2009 on behalf of the British government, posthumously apologized to Turing for prosecuting him as a homosexual.

More: http://www.turing.org.uk/scrapbook/ww2.html

Posted in Blog - news

Chương trình đào tạo kinh tế nên học toán nhiều hơn

Nguồn: Tuổi trẻ Online: http://tuoitre.vn/tin/giao-duc/khoa-hoc/20160705/chuong-trinh-dao-tao-kinh-te-nen-hoc-toan-nhieu-hon/1132174.html

TTO – Giáo sư Finn Kydland (Nobel kinh tế 2004) đã đưa ra lời khuyên trên tại buổi giao lưu với các nhà nghiên cứu, giảng viên, sinh viên trên địa bàn TP.HCM tại Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn (ĐHQG TP.HCM) chiều 5-7.

“Chương trình đào tạo kinh tế nên học toán nhiều hơn”
Giáo sư Finn Kydland kể về con đường đến với giải thưởng Nobel của ông – Ảnh: Như Hùng

Tại buổi giao lưu, giáo sư Kydland kể về con đường đến với giải thưởng Nobel của ông và ảnh hưởng của công trình nghiên cứu của ông đối với nghiên cứu kinh tế vĩ mô và xây dựng chính sách kinh tế.

Năm 2004, giáo sư Finn Kydland và Edward Prescott nhận giải thưởng Nobel kinh tế về công trình nghiên cứu kinh tế vĩ mô như lạm phát, biến động trong sản xuất và việc làm, tăng trưởng dài hạn. Các phân tích về chính sách kinh tế và động lực đằng sau các chu kỳ kinh doanh đã ảnh hưởng lớn đến chính sách tiền tệ, chính sách kinh tế nói chung. Hai ông đã đưa ra cách tiếp cận mới đối với kinh tế vĩ mô.

Giáo sư Finn Kydland cho biết vào những năm 1970, các nhà kinh tế vẫn còn loay hoay xây dựng các mô hình kinh tế dựa trên các tham số cố định, trong khi có những nhà kinh tế khác chứng minh rằng tham số này sẽ thay đổi khi chính sách nhà nước thay đổi.

Chính ông và đồng sự đã nghiên cứu và xây dựng mô hình kinh tế vĩ mô theo hướng khác, cho thấy những dao động kinh tế vĩ mô rất giống với tăng tiêu dùng, đầu tư và thu nhập quốc dân thực tế.

Nhiều ngân hàng trung ương, các tổ chức tài chính và các tổ chức quốc tế đã dùng mô hình này để đánh giá những ảnh hưởng do thay đổi chế độ chính sách kinh tế, những dự báo trước về chu kỳ kinh doanh đã bắt đầu phân tích các hiện tượng có tính chu kỳ.

Theo giáo sư Finn Kydland, ông nhận thấy kinh tế học hiện đại hiện đang thiên về toán học với việc sử dụng rất nhiều kiến thức, công cụ toán nên ông cho rằng các chương trình đào tạo ngành kinh tế nên tập trung vào toán nhiều hơn và giảm các môn kinh tế học.

Cũng theo giáo sư Kydland, kinh tế học hành vi đang là lĩnh vực rất thú vị, và sẽ có rất nhiều vấn đề, hướng nghiên cứu của ngành này trong thời gian tới.

Được biết, đây là lần đầu tiên giáo sư Finn Kydland thăm Việt Nam cùng với vợ là bà Tonya Kydland, tiến sĩ tâm lý học, chuyên gia về bệnh Alzheimer.

Giáo sư Kydland đến Việt Nam để dự hội nghị khoa học tự nhiên và xã hội trong chuỗi sự kiện “Gặp gỡ Việt Nam XII” sẽ diễn ra tại Quy Nhơn, Bình Định từ ngày 7-7.

H.NHUNG

Posted in Blog - news

4 NĂM ĐẠI HỌC VÀ 1 CÁI CV TRỐNG RỖNG

Một bài viết của một bạn vừa tốt nghiệp ĐH đăng trên page: Before I graduate.

Những ngày sắp tốt nghiệp này đối với mình như ngồi trên chảo lửa vậy. Lúc nào trong đầu mình cũng canh cánh một câu hỏi: “Viết gì vào CV bây giờ?”. 4 năm trong ĐH sắp hết và nhìn lại thì thấy mình chẳng làm được gì, học chẳng giỏi mà cũng không có kinh nghiệm làm việc hay thành tích gì. Tự dưng mình chán bản thân kinh khủng vì đã quá lãng phí thời gian.

Ngày nào cũng như ngày nào, đến trường thì ngủ gật hay lướt facebook, chơi game trong giờ. Tan học lại đi la cà ăn uống trà đá, không thì ra hàng net đánh LOL với bạn. Tối về nhà thì tiếp tục dán mắt với laptop xem phim, hay đi café hoặc trà đá. Tiểu luận, bài tập nhóm, present, thi giữa kỳ rồi cuối kỳ, tất cả cứ thế trôi qua mà chẳng đọng lại được gì cả. Làm sao mà đọng được khi cái gì cũng chỉ làm qua quýt cho có, kì thi đến thì chỉ học trước 1,2 ngày.

Hồi năm nhất, năm hai thấy bạn bè hoạt động câu lạc bộ, đi tình nguyện, chạy chương trình này nọ thì mình cùng với mấy “chiến hữu” ra quán chơi game, về nhà xem phim đọc truyện. Đến năm ba, năm bốn, bạn bè bắt đầu đi làm, đi thực tập chỗ này chỗ kia, thì mình vẫn tiếp tục mải miết với những cuộc vui thâu đêm suốt sáng. Nhiều lúc cũng thấy nhàm chán và muốn thay đổi nhưng độ chây lười của bản thân lớn quá nên lại tặc lưỡi: để mai, để sau này, để lúc khác… Rồi đến bây giờ khi “mai này” đã đến, khi sắp phải tự chịu trách nhiệm với cuộc đời của chính mình, thì thời gian của mình đã chẳng còn để làm gì nữa rồi. GPA? Thôi chẳng buồn nhắc đến, bảng điểm thì đủ cả A B C D F (mà F còn nhiều hơn A). Hoạt động ngoại khóa? Không. Kinh nghiệm làm việc? Không. Giải thưởng? Không. Kỹ năng? Không. Đến cả sử dụng Excel với Word cũng không xong. Mọi thứ đều là con số 0 tròn trĩnh, khiến mình ngồi hàng giờ mà chẳng biết cho gì vào CV.

Những ngày này mình chẳng muốn lên facebook luôn. Bạn bè có đứa thì bằng giỏi, bằng xuất sắc, học bổng, du học nước này rồi bay sang nước kia, có đứa thì quán quân á quân các cuộc thi, có đứa thì đi thực tập ở toàn các công ty lớn. Mình thì chúc mừng vui vẻ mà trong lòng thì thấy xấu hổ vô cùng. Tại sao cùng học 1 trường, gia đình thì chu cấp đầy đủ mà bạn bè thì lại giỏi thế, bọn nó đã bay xa cách mình hàng nghìn dặm rồi còn mình thì vẫn mãi ở đây, quanh quẩn với cái bằng và bảng điểm lẹt đẹt cùng một cái CV trống rỗng. Vẫn biết là mỗi người một con đường riêng, một định hướng riêng, thế nhưng sẽ chẳng thành công nào đến với kẻ lười biếng và lãng phí thời gian cả. Bây giờ chỉ ước có thể có lại 4 năm để làm lại, nhưng làm gì có cỗ máy thời gian trên đời này…

4 năm ĐH, 4 năm quý giá của cuộc đời trôi qua trong lãng phí, chẳng để lại gì ngoài những cuộc vui vô nghĩa và 1 cái CV trống rỗng.

Nguồn: https://www.facebook.com/Before.I.Graduate.I.want.to/

Posted in Blog - news, Linear Algebra

A Symbolic Analysis of Relay and Switching Circuits

“A Symbolic Analysis of Relay and Switching Circuits”, đó là tên của luận văn thạc sĩ về Khoa học máy tính của Claude E. Shannon bảo vệ tại MIT (Massachusetts Institute of Technology) năm 1937.

Shannon-front-thesis

Ảnh: Bìa cuốn luận văn của C. Shannon (nguồn: Internet).

Telephone_exchange_Montreal_QE3_33

Montreal telephone exchange (Wikipedia.org)

Trong luận văn này, Shannon đã chứng tỏ rằng Đại số Boole có thể sử dụng để rút gọn hay đơn giản hóa sự sắp xếp của các rơ le trong các khối của các thiết bị viễn thông cơ điện tự động trong mạng điện thoại (building blocks of the electromechanical automatic telephone exchanges). Ông cũng chứng minh rằng sự sắp xếp các rơ le cũng có thể áp dụng để giải các bài toán của Đại số Boole…

Claude_Elwood_Shannon_(1916-2001)

Claude E. Shannon (nguồn: Wikipedia.org)

Nhà tâm lý học Gardner đã miêu tả luận văn của Shannon như một “luận văn thạc sĩ quan trọng nhất, và cũng nổi tiếng nhất hết mức có thể, và là luận văn của thế kỷ”. Ngày nay, Shannon được xem như cha đẻ của lý thuyết thông tin (information theory).

Lược dịch từ: https://en.wikipedia.org/wiki/A_Symbolic_Analysis_of_Relay_and_Switching_Circuits

Xem thêm về tiểu sử của Shannon: https://en.wikipedia.org/wiki/Claude_Shannon