Bảng điểm thành phần Toán cao cấp 2

Thầy up bảng điểm thành phần các nhóm 1 – 2 – 3 – 6. Các lớp trưởng lưu ý nhắc các bạn xem.

HẾT thời hạn thắc mắc.

Cách cộng, trừ:

  • Vắng 1 buổi trừ 2 điểm chuyên cần.
  • Điểm kiểm tra lấy cho hai cột: thứ hai và thứ ba.
  • Một dấu cộng +2 vào cột kiểm tra, cộng full cột 2 thì cộng sang cột 3.
  • Một dấu trừ -2 vào cột kiểm tra.
  • Các lớp trưởng đều được cộng tương ứng với 1 hoặc 2 dấu cộng.

Nếu ai có thắc mắc gì thì hãy gửi về mail: hpdung83@gmail.com, thời hạn: Hết 24h, ngày 29/05/2016. Sau thời hạn đó, thầy sẽ gửi bảng điểm và mọi thắc mắc không còn hiệu lực nữa. File bảng điểm có 4 tab tương ứng với các lớp.

Đây là link file bảng điểm thành phần: Toan cao cap2-Nhom-1-2-3-6

Chúc các em thi tốt.



Bảng điểm thành phần các lớp Đại số, kì 1, 2016

Thầy up bảng điểm thành phần các lớp. Các lớp trưởng lưu ý nhắc các bạn xem.

Nếu ai có thắc mắc gì thì hãy gửi về mail: hpdung83@gmail.com, thời hạn: Hết 24h, ngày 05/01/2016. Sau thời hạn đó, thầy sẽ gửi bảng điểm và mọi thắc mắc không còn hiệu lực nữa. File bảng điểm có 4 tab tương ứng với các lớp.

Đây là link file bảng điểm thành phần: diem-thanh-phan-dai-so-nhom-1-6-9-16

Chúc các em ôn thi tốt.


Hết thời hạn gửi thắc mắc.

Bảng điểm đã update một số trường hợp – 04/1: diem-thanh-phan-dai-so-nhom-1-6-9-16-updated-4-1

Alan Turing’s Biography

Source: http://www.biography.com/people/alan-turing-9512017

Famed mathematician Alan Turing proved in his 1936 paper, “On Computable Numbers,”  that a universal algorithmic method of determining truth in math cannot exist.


Alan Turing was born on June 23, 1912, in London. In his seminal 1936 paper, he proved that there cannot exist any universal algorithmic method of determining truth in mathematics, and that mathematics will always contain undecidable propositions. That paper also introduced the “Turing machine. His papers on the subject are widely acknowledged as the foundation of research in artificial intelligence.

Early Life

English scientist Alan Turing was born Alan Mathison Turing on June 23, 1912, in Maida Vale, London, England. At a young age, he displayed signs of high intelligence, which some of his teachers recognized, but did not necessarily respect. When Turing attended the well-known independent Sherborne School at the age of 13, he became particularly interested in math and science.


After Sherborne, Turing enrolled at King’s College (University of Cambridge) in Cambridge, England, studying there from 1931 to 1934. As a result of his dissertation, in which he proved the central limit theorem, Turing was elected a fellow at the school upon his graduation.

In 1936, Turing delivered a paper, “On Computable Numbers, with an Application to the Entscheidungsproblem,” in which he presented the notion of a universal machine (later called the “Universal Turing Machine,” and then the “Turing machine”) capable of computing anything that is computable: The central concept of the modern computer was based on Turing’s paper.

Over the next two years, Turing studied mathematics and cryptology at the Institute for Advanced Study in Princeton, New Jersey. After receiving his Ph.D. from Princeton University in 1938, he returned to Cambridge, and then took a part-time position with the Government Code and Cypher School, a British code-breaking organization.

Cryptanalysis and Early Computers

During World War II, Turing was a leading participant in wartime code-breaking, particularly that of German ciphers. He worked at Bletchley Park, the GCCS wartime station, where he made five major advances in the field of cryptanalysis, including specifying the bombe, an electromechanical device used to help decipher German Enigma encrypted signals. Turing’s contributions to the code-breaking process didn’t stop there: He also wrote two papers about mathematical approaches to code-breaking, which became such important assets to the Code and Cypher School (later known as the Government Communications Headquarters) that the GCHQ waited until April 2012 to release them to the National Archives of the United Kingdom.


Turing moved to London in the mid-1940s, and began working for the National Physical Laboratory. Among his most notable contributions while working at the facility, Turing led the design work for the Automatic Computing Engine and ultimately created a groundbreaking blueprint for store-program computers. Though a complete version of the ACE was never built, its concept has been used as a model by tech corporations worldwide for several years, influencing the design of the English Electric DEUCE and the American Bendix G-15—credited by many in the tech industry as the world’s first personal computer—among other computer models.

Turing went on to hold high-ranking positions in the mathematics department and later the computing laboratory at the University of Manchester in the late 1940s. He first addressed the issue of artificial intelligence in his 1950 paper, “Computing machinery and intelligence,” and proposed an experiment known as the “Turing Test”—an effort to create an intelligence design standard for the tech industry. Over the past several decades, the test has significantly influenced debates over artificial intelligence.

Homosexuality, Conviction and Death

Homosexuality was illegal in the United Kingdom in the early 1950s, so when Turing admitted to police—who he called to his house after a break-in—in January, 1952, that he had had a sexual relationship with the perpetrator, 19-year-old Arnold Murray, he was charged with gross indecency. Following his arrest, Turing was forced to choose between temporary probation on the condition that he receive hormonal treatment for libido reduction, or imprisonment. He chose the former, and soon underwent chemical castration through injections of a synthetic estrogen hormone for a year, which eventually rendered him impotent.

As a result of his conviction, Turing’s security clearance was removed and he was barred from continuing his work with cryptography at the GCCS, which had become the GCHQ in 1946.

Turing died on June 7, 1954. Following a postmortem exam, it was determined that the cause of death was cyanide poisoning. The remains of an apple were found next to the body, though no apple parts were found in his stomach. The autopsy reported that “four ounces of fluid which smelled strongly of bitter almonds, as does a solution of cyanide” was found in the stomach. Trace smell of bitter almonds was also reported in vital organs. The autopsy concluded that the cause of death was asphyxia due to cyanide poisoning and ruled a suicide.

In a June 2012 BBC article, philosophy professor and Turing expert Jack Copeland argued that Turing’s death may have been an accident: The apple was never tested for cyanide, nothing in the accounts of Turing’s last days suggested he was suicidal and Turing had cyanide in his house for chemical experiments he conducted in his spare room.


Image: Bombe rebuild.

Awards, Recognition and Apology

Shortly after World War II, Alan Turing was awarded an Order of the British Empire for his work. For what would have been his 86th birthday, Turing biographer Andrew Hodges unveiled an official English Heritage blue plaque at his childhood home. In June 2007, a life-size statue of Turing was unveiled at Bletchley Park, in Buckinghamshire, England. A bronze statue of Turing was unveiled at the University of Surrey on October 28, 2004, to mark the 50th anniversary of his death. Additionally, the Princeton University Alumni Weekly named Turing the second most significant alumnus in the history of the school – James Madison held the number 1 position.

Turing was honored in a number of other ways, particularly in the city of Manchester, where he worked toward the end of his life. In 1999, Timemagazine named him one of its “100 Most Important People of the 20th century,” saying, “The fact remains that everyone who taps at a keyboard, opening a spreadsheet or a word-processing program, is working on an incarnation of a Turing machine.” Turing was also ranked 21st on the BBC nationwide poll of the “100 Greatest Britons” in 2002. By and large, Turing has been recognized for his impact on computer science, with many crediting him as the “founder” of the field.

Following a petition started by John Graham-Cumming, then-Prime Minister Gordon Brown released a statement on September 10, 2009 on behalf of the British government, posthumously apologized to Turing for prosecuting him as a homosexual.

More: http://www.turing.org.uk/scrapbook/ww2.html

Chương trình đào tạo kinh tế nên học toán nhiều hơn

Nguồn: Tuổi trẻ Online: http://tuoitre.vn/tin/giao-duc/khoa-hoc/20160705/chuong-trinh-dao-tao-kinh-te-nen-hoc-toan-nhieu-hon/1132174.html

TTO – Giáo sư Finn Kydland (Nobel kinh tế 2004) đã đưa ra lời khuyên trên tại buổi giao lưu với các nhà nghiên cứu, giảng viên, sinh viên trên địa bàn TP.HCM tại Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn (ĐHQG TP.HCM) chiều 5-7.

“Chương trình đào tạo kinh tế nên học toán nhiều hơn”
Giáo sư Finn Kydland kể về con đường đến với giải thưởng Nobel của ông – Ảnh: Như Hùng

Tại buổi giao lưu, giáo sư Kydland kể về con đường đến với giải thưởng Nobel của ông và ảnh hưởng của công trình nghiên cứu của ông đối với nghiên cứu kinh tế vĩ mô và xây dựng chính sách kinh tế.

Năm 2004, giáo sư Finn Kydland và Edward Prescott nhận giải thưởng Nobel kinh tế về công trình nghiên cứu kinh tế vĩ mô như lạm phát, biến động trong sản xuất và việc làm, tăng trưởng dài hạn. Các phân tích về chính sách kinh tế và động lực đằng sau các chu kỳ kinh doanh đã ảnh hưởng lớn đến chính sách tiền tệ, chính sách kinh tế nói chung. Hai ông đã đưa ra cách tiếp cận mới đối với kinh tế vĩ mô.

Giáo sư Finn Kydland cho biết vào những năm 1970, các nhà kinh tế vẫn còn loay hoay xây dựng các mô hình kinh tế dựa trên các tham số cố định, trong khi có những nhà kinh tế khác chứng minh rằng tham số này sẽ thay đổi khi chính sách nhà nước thay đổi.

Chính ông và đồng sự đã nghiên cứu và xây dựng mô hình kinh tế vĩ mô theo hướng khác, cho thấy những dao động kinh tế vĩ mô rất giống với tăng tiêu dùng, đầu tư và thu nhập quốc dân thực tế.

Nhiều ngân hàng trung ương, các tổ chức tài chính và các tổ chức quốc tế đã dùng mô hình này để đánh giá những ảnh hưởng do thay đổi chế độ chính sách kinh tế, những dự báo trước về chu kỳ kinh doanh đã bắt đầu phân tích các hiện tượng có tính chu kỳ.

Theo giáo sư Finn Kydland, ông nhận thấy kinh tế học hiện đại hiện đang thiên về toán học với việc sử dụng rất nhiều kiến thức, công cụ toán nên ông cho rằng các chương trình đào tạo ngành kinh tế nên tập trung vào toán nhiều hơn và giảm các môn kinh tế học.

Cũng theo giáo sư Kydland, kinh tế học hành vi đang là lĩnh vực rất thú vị, và sẽ có rất nhiều vấn đề, hướng nghiên cứu của ngành này trong thời gian tới.

Được biết, đây là lần đầu tiên giáo sư Finn Kydland thăm Việt Nam cùng với vợ là bà Tonya Kydland, tiến sĩ tâm lý học, chuyên gia về bệnh Alzheimer.

Giáo sư Kydland đến Việt Nam để dự hội nghị khoa học tự nhiên và xã hội trong chuỗi sự kiện “Gặp gỡ Việt Nam XII” sẽ diễn ra tại Quy Nhơn, Bình Định từ ngày 7-7.


Bảng điểm thành phần các lớp Toán cao cấp 2 – D15 khối Kinh tế

Dear all,

Thầy tổng kết điểm dựa trên nguyên tắc sau:

  • Nếu nhóm kiểm tra nào chia đều điểm: trừ điểm cả nhóm.
  • Nếu nhóm nào chia điểm sai: Trừ điểm nhóm trưởng.
  • Điểm chuyên cần: Vắng 1 buổi trừ 2 điểm.
  • Điểm dấu cộng – trừ: + thì cộng 2, – thì trừ 2.
  • Được 5 dấu + thì full 10 3 cột (tuỳ theo chất lượng bài tập lớn, nếu tốt).

File Điểm chuyên cần và kiểm tra (chưa tính dấu +) các lớp Toán cao cấp 2: Diem-thanh-phan-TCC2-chuacong

Chú ý: Bảng điểm sẽ được update

1, Lớp số 7 (Đặng Thái Sơn lớp trưởng): <– Hôm qua nhầm tên Hải Dương.

Trừ điểm kiểm tra của:

  • Nhóm Dương Thị Hiền vì chia đều điểm.
  • Nhóm Tăng thị Ngọc Mai: chia điểm sai (nhiều hơn số đã có).

2, Lớp số 3 (Nguyễn Mai Linh lt):

  • Trừ Nhóm Tố Uyên: chia điểm sai.
  • Lưu ý: Nhóm Đỗ Thị Hương: nhóm này chia điểm Phí Phương Anh: 0 –> bạn này sẽ không được thi.

3, Lớp số 4 (Nguyễn Thu Hoà lt):

  • Nhóm này có 3 bạn Nguyễn Thị Huyền nhưng có 2 bạn ko ghi cụ thể là lớp nào (trừ Ng Thị Huyền PT01), báo lại sớm ở comment dưới bài này là các em ở nhóm nào để thầy vào điểm kiểm tra nhé.

Các em có thắc mắc gì thì comment ngay tại đây. Ở dưới.



  • Điểm bài tập lớn các lớp số 1 (LT: Lê Thị Hoà), lớp số 8 (LT: Hải Dương). Chú ý: Đây là toàn bộ điểm thành phần chưa cộng và chưa trừ:

Link tải file: Diem-thanh-phan-TCC2-updating-2

UPDATE FULL: 03/6/16

  • Nhóm 4 (LT: Nguyễn Thu Hoà): Bạn Tạ Duy Đông và Nguyễn Ngọc Tiến không có bài tập lớn??  –> không đc thi. Các em ở nhóm bài tập nào?
  • Nhóm 3 (LT: Nguyễn Mai Linh): Bạn Lê Huy Hoàng ko có BTL –> Báo lại xem ở nhóm nào?
  • Bảng điểm full, đã cộng và trừ, thưởng: Diem-thanh-phan-TCC2-full

Các bạn chú ý: HẾT thời gian thắc mắc điểm rồi nhé. Điểm thầy đã tổng kết và nộp rồi.



Một bài viết của một bạn vừa tốt nghiệp ĐH đăng trên page: Before I graduate.

Những ngày sắp tốt nghiệp này đối với mình như ngồi trên chảo lửa vậy. Lúc nào trong đầu mình cũng canh cánh một câu hỏi: “Viết gì vào CV bây giờ?”. 4 năm trong ĐH sắp hết và nhìn lại thì thấy mình chẳng làm được gì, học chẳng giỏi mà cũng không có kinh nghiệm làm việc hay thành tích gì. Tự dưng mình chán bản thân kinh khủng vì đã quá lãng phí thời gian.

Ngày nào cũng như ngày nào, đến trường thì ngủ gật hay lướt facebook, chơi game trong giờ. Tan học lại đi la cà ăn uống trà đá, không thì ra hàng net đánh LOL với bạn. Tối về nhà thì tiếp tục dán mắt với laptop xem phim, hay đi café hoặc trà đá. Tiểu luận, bài tập nhóm, present, thi giữa kỳ rồi cuối kỳ, tất cả cứ thế trôi qua mà chẳng đọng lại được gì cả. Làm sao mà đọng được khi cái gì cũng chỉ làm qua quýt cho có, kì thi đến thì chỉ học trước 1,2 ngày.

Hồi năm nhất, năm hai thấy bạn bè hoạt động câu lạc bộ, đi tình nguyện, chạy chương trình này nọ thì mình cùng với mấy “chiến hữu” ra quán chơi game, về nhà xem phim đọc truyện. Đến năm ba, năm bốn, bạn bè bắt đầu đi làm, đi thực tập chỗ này chỗ kia, thì mình vẫn tiếp tục mải miết với những cuộc vui thâu đêm suốt sáng. Nhiều lúc cũng thấy nhàm chán và muốn thay đổi nhưng độ chây lười của bản thân lớn quá nên lại tặc lưỡi: để mai, để sau này, để lúc khác… Rồi đến bây giờ khi “mai này” đã đến, khi sắp phải tự chịu trách nhiệm với cuộc đời của chính mình, thì thời gian của mình đã chẳng còn để làm gì nữa rồi. GPA? Thôi chẳng buồn nhắc đến, bảng điểm thì đủ cả A B C D F (mà F còn nhiều hơn A). Hoạt động ngoại khóa? Không. Kinh nghiệm làm việc? Không. Giải thưởng? Không. Kỹ năng? Không. Đến cả sử dụng Excel với Word cũng không xong. Mọi thứ đều là con số 0 tròn trĩnh, khiến mình ngồi hàng giờ mà chẳng biết cho gì vào CV.

Những ngày này mình chẳng muốn lên facebook luôn. Bạn bè có đứa thì bằng giỏi, bằng xuất sắc, học bổng, du học nước này rồi bay sang nước kia, có đứa thì quán quân á quân các cuộc thi, có đứa thì đi thực tập ở toàn các công ty lớn. Mình thì chúc mừng vui vẻ mà trong lòng thì thấy xấu hổ vô cùng. Tại sao cùng học 1 trường, gia đình thì chu cấp đầy đủ mà bạn bè thì lại giỏi thế, bọn nó đã bay xa cách mình hàng nghìn dặm rồi còn mình thì vẫn mãi ở đây, quanh quẩn với cái bằng và bảng điểm lẹt đẹt cùng một cái CV trống rỗng. Vẫn biết là mỗi người một con đường riêng, một định hướng riêng, thế nhưng sẽ chẳng thành công nào đến với kẻ lười biếng và lãng phí thời gian cả. Bây giờ chỉ ước có thể có lại 4 năm để làm lại, nhưng làm gì có cỗ máy thời gian trên đời này…

4 năm ĐH, 4 năm quý giá của cuộc đời trôi qua trong lãng phí, chẳng để lại gì ngoài những cuộc vui vô nghĩa và 1 cái CV trống rỗng.

Nguồn: https://www.facebook.com/Before.I.Graduate.I.want.to/